

Thuốc tránh thai Mercilon Bayer 21 viên
Thông tin vận chuyển
Thông tin chi tiết
| Danh mục | Thuốc tránh thai |
| Hoạt chất | Desogestrel/Ethinylestradiol |
| Quy cách | Hộp 1 vỉ x 21 viên |
| Nhà sản xuất | Bayer |
| Số đăng ký | 870110529024 |
| Nước sản xuất | Hà Lan |
| Dạng bào chế | Viên nén |
| Hạn dùng | 36 tháng kể từ ngày sản xuất |
| Hàm lượng | 0.15 mg / 0.02 mg |
Mô tả chi tiết sản phẩm
Thông tin chung
Mercilon Bayer là thuốc tránh thai hằng ngày dạng phối hợp, chứa desogestrel 0,15mg và ethinylestradiol 0,02mg. Thuốc giúp ngăn ngừa mang thai chủ yếu bằng cách ức chế rụng trứng, đồng thời làm thay đổi chất nhầy cổ tử cung. Thuốc được uống 1 viên mỗi ngày theo đúng thứ tự trong vỉ, giúp duy trì hiệu quả tránh thai khi sử dụng đều đặn.
Thành phần
| Hoạt chất chính | Hàm lượng |
|---|---|
| Desogestrel/Ethinylestradiol | 0.15 mg / 0.02 mg |
Chỉ định
Chỉ định chính của Mercilon:
- Tránh thai.
Chống chỉ định
Không dùng các thuốc tránh thai kết hợp dạng uống (Combined oral contraceptives - COCs) khi có biểu hiện của bất kỳ tình trạng nào được liệt kê dưới đây. Nên ngừng dùng thuốc ngay nếu có bất kỳ tình trạng nào xảy ra lần đầu trong khi dùng thuốc tránh thai kết hợp dạng uống:
- Đang có hoặc tiền sử có huyết khối tĩnh mạch (như huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi).
- Đang có hoặc tiền sử có huyết khối động mạch (nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não) hoặc các biểu hiện báo trước (như cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, đau thắt ngực).
- Đã biết có bẩm chất huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch, như đề kháng protein C hoạt hóa (APC), thiếu chất chống đông máu III (antithrombin-III), thiếu protein C, thiếu protein S, tăng homocystein máu, và kháng thể kháng phospholipid.
- Tiền sử đau nửa đầu với các triệu chứng thần kinh đáng kể (xem Mục Cảnh báo).
- Tiểu đường có tổn thương mạch máu.
- Có một yếu tố nguy cơ trầm trọng hoặc nhiều yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch cũng là một chống chỉ định (xem Mục Cảnh báo).
- Viêm tụy hoặc tiền sử có liên quan đến tăng triglycerin máu nặng.
- Đang có hoặc tiền sử có bệnh gan nặng mà giá trị chức năng gan chưa trở lại bình thường.
- Đang có hoặc tiền sử có u gan (lành tính hoặc ác tính).
- Đã biết hoặc nghi ngờ có u ác tính chịu ảnh hưởng của steroid sinh dục (như các cơ quan sinh dục hoặc vú).
- Xuất huyết âm đạo không rõ nguyên nhân.
- Đã biết hoặc nghi ngờ có thai.
- Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào của Mercilon.
Liều lượng - Cách dùng
Cách dùng:
- Hằng ngày uống các viên thuốc theo thứ tự được chỉ trên vỉ thuốc vào cùng một giờ với một ít nước nếu cần. Mỗi ngày uống một viên trong 21 ngày liên tiếp. Bắt đầu dùng vỉ kế tiếp sau 7 ngày nghỉ uống thuốc, trong thời gian này thường xảy ra xuất huyết do tạm nghỉ thuốc. Ra huyết thường bắt đầu 2 – 3 ngày sau khi uống viên thuốc cuối cùng và có thể chưa chấm dứt trước khi bắt đầu uống vỉ kế tiếp.
Liều dùng:
Không dùng phương pháp tránh thai hormone:
- Bắt đầu uống thuốc vào ngày 1 của vòng kinh tự nhiên (tức là ngày hành kinh đầu tiên). Cũng có thể bắt đầu uống vào ngày 2-5 của vòng kinh, nhưng trong chu kỳ đầu tiên nên dùng thêm phương pháp tránh thai bằng màng chắn trong 7 ngày đầu uống thuốc.
Đổi từ một thuốc tránh thai hormone phối hợp khác:
- Tốt nhất nên bắt đầu dùng Merciion vào ngày sau khi đã uống viên thuốc có hoạt chất cuối cùng (viên thuốc cuối cùng chứa hoạt chất) của COC trước đó. Nhưng muộn nhất vào ngày kế tiếp thời gian tạm nghỉ thuốc, hoặc sau viên chứa giả dược cuối cùng của COC trước đó. Trong trường hợp sử dụng vòng đặt âm đạo hoặc miếng cấy dưới da, tốt nhất nên bắt đầu dùng Merciion vào ngày rút dụng cụ trên, nhưng không muộn hơn thời gian đáng lẽ phải đặt dụng cụ tiếp theo.
- Nếu phương pháp tránh thai trước đó được sử dụng đều đặn và đúng cách và nếu chắc chắn không có thai thì cũng có thể đổi thuốc vào bất kỳ ngày nào trong chu kỳ dùng thuốc tránh thai hormone phối hợp trước đó.
Đối từ phương pháp tránh thai chỉ có progestogen:
- Có thể đổi thuốc vào bất cứ ngày nào khi đang dùng minipill nhưng trong tất cả các trường hợp trên nên dùng thêm phương pháp màng chắn trong 7 ngày đầu uống thuốc.
- Sau khi sảy thai trong 3 tháng đầu có thể bắt đầu uống thuốc ngay. Nếu uống như thế thì không cần dùng thêm phương pháp tránh thai bổ sung.
Tác dụng phụ
Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng ngoại ý có thể xảy ra đã được báo cáo ở những người sử dụng Mercilon hoặc COC1:
| Phân loại hệ cơ quan | Thường gặp (≥ 1/100) | Không thường gặp (≥1/1000 và < 1/100) | Hiếm gặp ( < 1/1000) |
| Rối loạn hệ miễn dịch | Quá mẫn | ||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Giữ nước | ||
| Rối loạn tâm thần | Trạng thái trầm cảm, thay đổi tâm trạng | Giảm ham muốn tình dục | Tăng ham muốn tình dục |
| Rối loạn hệ thần kinh | Đau đầu | Đau nửa đầu | |
| Rối loạn mắt | Không dung nạp kính áp tròng | ||
| Rối loạn về mạch |
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch2 Thuyên tắc huyết khối động mạch2 |
||
| Rối loạn đường tiêu hóa | Buồn nôn, đau bụng | Nôn, tiêu chảy | |
| Rối loạn da và mô dưới da | Phát ban, mề đay | Ban đỏ nổi cục, ban đỏ đa hình | |
| Xét nghiệm | Tăng cân. | Giảm cân |
- Thuật ngữ MedRA phù hợp nhất (phiên bản 11.0) để mô tả một vài phản ứng bất lợi được liệt kê. Các điều kiện tương tự hoặc liên quan không được liệt kê, nhưng cũng cần lưu ý.
- Tỉ lệ trong các nghiên cứu quan sát thuần tập ≥ 1/10000 đến <1/1000 phụ nữ-năm.
- Tác dụng ngoại ý đã được báo cáo trên phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai kết hợp dạng uống được bàn luận chi tiết hơn trong Mục Cảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng. Tác dụng ngoại ý bao gồm: rối loạn huyết khối tĩnh mạch; rối loạn huyết khối động mạch; tăng huyết áp; khối u phụ thuộc hormone (như u gan, ung thư vú); nám da.
Thông báo cho bác sĩ các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Tương tác thuốc
Lưu ý: Nên tham khảo thông tin kê toa của thuốc dùng đồng thời để xác định tương tác có thể xảy ra. Tương tác giữa thuốc tránh thai dạng uống và các thuốc khác có thể gây ra máu bất thường và/hoặc mất tác dụng của thuốc tránh thai dạng uống. Đã ghi nhận các tương tác sau đây trong y văn:
- Chuyển hóa gan: Các tương tác có thể xảy ra với các thuốc thảo dược gây cảm ứng enzyme gan, đặc biệt các enzyme cytochrome P450 (CYP), dẫn đến tăng độ thanh thải, làm giảm nồng độ trong huyết tương của các hormon sinh dục, do đó có thể làm giảm hiệu quả của các thuốc tránh thai đường uống phối hợp, bao gồm Mercilon. Các thuốc này bao gồm (phenytoin, phenobarbital, primidon, bosentan, carbamazepin, rifampicin, và có thể oxcarbazepin, topiramat, felbamat, griseofulvin, một số thuốc ức chế HIV protease (ví dụ ritonavir) và các thuốc ức chế quá trình sao chép ngược non-nucleosid (ví dụ efavirenz) và các thuốc chứa thảo dược St. John's.
- Sự cảm ứng emzym có thể xảy ra một vài ngày sau khi điều trị. Sự cảm ứng enzym tối đa thường được quan sát trong vòng vài tuần. Sau khi ngừng thuốc, cảm ứng enzyme có thể kéo dài khoảng 28 ngày.
- Khi sử dụng đồng thời với các thuốc tránh thai hormon, nhiều phối hợp của các thuốc ức chế HIV protease (ví dụ nelfinavir) và các thuốc ức chế sao chép ngược non-nucleosid (nevirapin) và/hoặc phối hợp với các thuốc kháng viêm gan siêu vi C (HCV) (ví dụ boceprevir, telaprevir) có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ các progestin trong huyết tương, bao gồm etonogestrel chất chuyển hoá có hoạt tính của desogestrel hoặc các estrogen. Ảnh hưởng của các thay đổi này có thể liên quan đến lâm sàng trong một vài trường hợp.
- Những phụ nữ sử dụng các thuốc cảm ứng enzym gan hoặc các thảo dược trên nên được tư vấn rằng hiệu quả của Mercilon có thể giảm. Biện pháp tránh thai màng chắn có thể được sử dụng bên cạnh Mercilon trong thời gian sử dụng các thuốc cảm ứng enzym gan và 28 ngày sau khi ngưng thuốc các thuoocs cảm ứng enzym gan này. Nếu thuốc phối hợp được sử dụng sau khi kết thúc viên thuốc cuối cùng trong vỉ COC hiện tại, vỉ COC tiếp theo nên được bắt đầu ngay sau, bỏ qua giai đoạn sử dụng viên thuốc không có hoạt tính.
- Với phụ nữ sử dụng dài hạn các thuốc cảm ứng enzym, nên cân nhắc sử dụng các biện pháp tránh thai khác mà không bị ảnh hưởng bởi các thuốc cảm ứng enzyme. Phối hợp với các thuốc ức chế CYP 3A4 mạnh (ketoconazol, itraconazol, clarithromycin hoặc trung bình (fluconazole, diltiazem, erythromycin) có thể làm tăng nồng độ huyết tương của các estrogen hoặc progestin, bao gồm chất chuyển hóa có hoạt tính của desogestrel là etonogestrel.
- Các thuốc tránh thai dạng uống có thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa các thuốc khác. Do đó, nồng độ các thuốc này trong huyết tương và mô có thể tăng lên (như với cyclosporin) hoặc giảm đi (như với lamotrigin).
- Trong các thử nghiệm lâm sàng với phác đồ điều trị viêm gan siêu vi C phối hợp thuốc ombitasvir/paritaprevir/ritonavir có hoặc không có dasabuvir, nồng độ ALT tăng hơn 5 lần mức giới hạn cao (ULN) thường gặp hơn trên những phụ nữ sử dụng các thuốc có chứa ethinylestradiol như các CHC. Mercilon phải được ngưng sử dụng trước khi bắt đầu phác đồ thuốc phối hợp ombitasvir/paritaprevir/ritonavir có hoặc không có dasabuvir (xem Chống chỉ định và Tương tác với các thuốc khác và các loại tương tác khác). Mercilon có thể được sử dụng lại khoảng 2 tuần sau khi kết thúc điều trị với phác đồ phối hợp các thuốc trên.
Xét nghiệm cận lâm sàng:
- Sử dụng steroid tránh thai có thể ảnh hưởng đến kết quả một số xét nghiệm cận lâm sàng, bao gồm các thông số sinh hóa của gan, tuyến giáp, chức năng thận và thượng thận, nồng độ các protein (chất mang) trong huyết tương, ví dụ globulin gắn corticosteroid và các thành phần lipid/lipoprotein, các thông số chuyển hóa carbohydrate và các thông số đông máu và tiêu sợi huyết. Nhìn chung những thay đổi ở trong giới hạn xét nghiệm bình thường.
Quá liều và xử trí
Làm gì khi dùng quá liều?
- Không có các báo cáo về các tác hại nghiêm trọng do quá liều. Triệu chứng có thể xảy ra trong trường hợp này là: buồn nôn, nôn, ra huyết âm đạo nhẹ ở trẻ gái. Không có thuốc giải độc và chỉ điều trị triệu chứng.
Làm gì khi quên 1 liều?
- Nếu uống thuốc muộn nhưng dưới 12 giờ, tác dụng bảo vệ tránh thai không giảm. Người phụ nữ nên uống thuốc ngay khi nhớ ra và nên uống những viên thuốc kế tiếp vào thời gian thường lệ.
- Nếu quên thuốc muộn quá 12 giờ, tác dụng bảo vệ tránh thai có thể giảm.
- Việc xử trí quên uống thuốc dựa vào hai nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Không bao giờ được ngừng thuốc quá 7 ngày.
- Cần phải uống thuốc 7 ngày liên tiếp mới có tác dụng ức chế đầy đủ đối với trục hạ đồi- tuyến yên-buồng trứng.
- Dựa vào đó, trong thực hành hằng ngày có thể đưa ra những lời khuyên sau đây:
- Tuần 1: nên uống viên thuốc bỏ sót cuối cùng ngay khi nhớ ra, cho dù phải uống hai viên một lúc. Sau đó, tiếp tục uống thuốc theo giờ thường lệ. Thêm nữa, nên dùng một phương pháp màng chắn như bao cao su trong 7 ngày kế tiếp. Nếu đã giao hợp trong vòng 7 ngày trước, nên xem xét khả năng có thai. Quên uống càng nhiều viên và càng gần thời gian tạm nghỉ thuốc thường lệ thì nguy cơ có thai càng cao.
- Tuần 2: nên uống viên thuốc bỏ sót cuối cùng ngay khi nhớ ra, cho dù phải uống hai viên một lúc. Sau đó, tiếp tục uống thuốc theo giờ thường lệ. Nếu người phụ nữ đã uống thuốc đúng cách trong 7 ngày trước viên thuốc bỏ quên đầu tiên thì không cần dùng thêm phương pháp tránh thai bổ sung. Tuy vậy, nếu dùng thuốc không đúng cách trong 7 ngày trước khi quên thuốc hoặc nếu quên uống nhiều hơn 1 viên, thì nên dùng thêm phương pháp tránh thai bổ sung trong 7 ngày.
- Tuần 3: nguy cơ giảm độ tin cậy rất lớn vì đã sát thời gian tạm nghỉ thuốc. Tuy nhiên, bằng cách điều chỉnh lịch uống thuốc vẫn có thể ngăn ngừa được việc giảm tác dụng bảo vệ tránh thai. Do đó, nếu tuân thủ một trong hai phương án sau đây thì không cần dùng thêm phương pháp tránh thai bổ sung, với điều kiện là đã uống thuốc đúng cách trong 7 ngày trước viên thuốc bỏ quên đầu tiên. Nếu không đúng như thế, nên thực hiện theo phương án thứ nhất và dùng thêm phương pháp tránh thai bổ sung trong 7 ngày kế tiếp.
- Nên uống viên thuốc bỏ sót cuối cùng ngay khi nhớ ra, cho dù phải uống hai viên một lúc. Sau đó, tiếp tục uống thuốc theo giờ thường lệ. Bắt đầu uống sang vỉ kế tiếp ngay khi dùng hết vỉ thuốc đang uống, như vậy không có thời gian nghỉ thuốc giữa hai vỉ. Người phụ nữ có thể không thấy xuất huyết cho đến khi uống hết vỉ thứ hai, nhưng có thể thấy rỉ huyết hoặc ra huyết bất thường vào những ngày đang uống thuốc.
- Cũng có thể ngừng dùng vỉ thuốc đang uống. Sau đó tạm nghỉ uống thuốc một thời gian tối đa là 7 ngày, kể cả những ngày quên uống thuốc, và sau đó tiếp tục uống vỉ thuốc mới.
- Nên xét đến khả năng có thai nếu người phụ nữ quên uống thuốc và sau đó không thấy ra huyết trong thời gian tạm nghỉ thuốc đầu tiên.
- Lời khuyên trong trường hợp có bất thường về tiêu hóa:
- Trong trường hợp có bất thường nặng về tiêu hóa, sự hấp thu có thể không đầy đủ và nên sử dụng thêm một biện pháp tránh thai khác kèm theo.
- Nếu xuất hiện nôn trong vòng 3 - 4 giờ sau khi uống thuốc, có thể đưa ra lời khuyên như trường hợp quên uống thuốc ở mục Cách xử trí khi quên uống thuốc. Nếu người phụ nữ không muốn thay đổi lịch uống thuốc bình thường của mình, thì cần phải uống thêm (những) viên thuốc lấy từ một vỉ khác.
Bảo quản
- Để thuốc nơi khô ráo, tránh ẩm, tránh ánh sáng.
- Nhiệt độ không quá 30°C.
- Để xa ngoài tầm tay trẻ em.
Lưu ý
Thận trọng khi sử dụng
- Nếu có bất kỳ tình trạng/yếu tố nguy cơ nào dưới đây, cần cân nhắc lợi ích của việc dùng COC với những nguy cơ có thể có đối với mỗi phụ nữ và thảo luận với người phụ nữ trước khi họ quyết định bắt đầu dùng thuốc. Trong trường hợp trở nặng, kịch phát hoặc lần đầu xảy ra bất kỳ tình trạng hoặc yếu tố nguy cơ nào, người phụ nữ nên đến gặp bác sĩ. Bác sĩ sẽ quyết định có nên ngừng dùng COC hay không.
- Các nghiên cứu dịch tễ học đã gợi ý một sự kết hợp giữa việc dùng COC với tăng nguy cơ bệnh huyết khối và thuyên tắc huyết khối động mạch và tĩnh mạch, như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, huyết khối tĩnh mạch sâu, và thuyên tắc phổi. Những biến cố này hiếm khi xảy ra.
- Việc sử dụng CHC có liên quan với tăng nguy cơ tắc tĩnh mạch do huyết khối (venous thromboembolism-VTE) biểu hiện như huyết khối tĩnh mạch sâu và/hoặc thuyên tắc phổi. Nguy cơ này cao nhất trong năm đầu dùng CHC. Nguy cơ cũng tăng ngay khi bắt đầu sử dụng CHC hoặc khi bắt đầu lại cùng thuốc hoặc một thuốc CHC khác sau khi dừng sử dụng 4 tuần hoặc hơn.
- Một vài nghiên cứu dịch tễ gợi ý rằng phụ nữ dùng liều thấp COC chứa progestogen thế hệ thứ 3, bao gồm desogestrel, có nguy cơ tăng VTE so với những người uống liều thấp COC chứa progestogen levonorgestrel. Những nghiên cứu này chỉ ra nguy cơ tăng khoảng 2 lần, tương đương thêm 1 - 2 trường hợp VTE trên 10000 phụ nữ/năm sử dụng. Tuy nhiên dữ liệu từ những nghiên cứu khác không cho thấy tăng nguy cơ đến 2 lần.
- Nhìn chung, tỷ lệ VTE ở những người sử dụng liều estrogen thấp ( < 0,05mg ethinylestradiol) thuốc tránh thai nội tiết kết hợp (CHC) thay đổi từ khoảng 3 tới 12 trường hợp trên 10000 phụ nữ-năm không sử dụng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp. Tỷ lệ VTE xuất hiện khi dùng CHC là ít hơn so với tỷ lệ này xảy ra ở phụ nữ mang thai (nghĩa là 5 tới 20 trường hợp trên 10000 phụ nữ-năm). VTE dẫn tới tử vong chiếm 1-2$ các trường hợp.
- Hình dưới đây cho thấy nguy cơ mắc VTE ở những phụ nữ không có thai và không sử dụng CHC, ở những phụ nữ dùng CHC, phụ nữ có thai và phụ nữ sau sinh. Nguy cơ mắc VTE được nhìn nhận như sau: Nếu theo dõi 10000 phụ nữ không có thai và không dùng CHC trong một năm, sẽ có từ 1 tới 5 người trong số những phụ nữ này mắc VTE.
Phụ nữ mang thai và cho con bú
- Không chỉ định dùng Mercilon trong thai kỳ. Nếu có thai trong thời gian dùng Mercilon thì nên ngừng dùng thuốc. Tuy nhiên, những nghiên cứu dịch tễ học trên diện rộng cho thấy không tăng nguy cơ bất thường ở những đứa trẻ sinh ra từ người mẹ đã dùng COC trước khi mang thai, cũng không thấy tác dụng sinh quái thai khi vô tình uống COC trong thời kỳ đầu mang thai.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
- Chưa có báo cáo.
Khách hàng đánh giá
Chưa có đánh giá nào cho sản phẩm này
Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận và đánh giá sản phẩm nhé!

